HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN DIALOGS TẠI VĨNH PHÚC

 

Tiếp nối các hoạt động của CTSH/PAOPA, DIALOGS được triển khai tại Vĩnh Phúc với hai huyện điểm Tam Dương (13 xã) và Bình Xuyên (10 xã).

 

Để tạo môi trường thể chế thuận lợi cho các tổ chức nông dân đã được thành lập trong giai đoạn CTSH/PAOPA, DIALOGS cũng đã phối hợp với các UBND xã, các tổ chức kinh tế – xã hội tại địa phương để củng cố các tổ chức này, coi nó như một trong những phương tiện nhằm cung cấp tốt hơn các dịch vụ cho nông dân. Hai đối tác địa phương chính là Trạm Khuyến nông Tam Dương và Bình Xuyên.


 

Tại Vĩnh Phúc, DIALOGS tiến hành triển khai những hoạt động cụ thể sau:

  • Chăn nuôi thú y

  • Thuỷ sản

  • Sản xuất rau

  • Sản xuất lúa giống

 

CÁC HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ

 

Chăn nuôi thú y
Bình Xuyên và Tam Dương cùng thuộc 1 vùng, nhưng có hoàn cảnh, tiềm năng và điều kiện thị trường khác nhau nên các phương thức tác động cũng được điều chỉnh cho phù hợp.
Tại Bình Xuyên, các hoạt động tập trung vào việc đẩy mạnh chăn nuôi thông qua:

  • Đáp ứng tốt các dịch vụ thú y từ các tổ chức thú y cơ sở. Sự tồn tại và hoạt động của mạng lưới thú y được đào tạo bài bản cho phép cải thiện khâu cung cấp các dịch vụ phòng trị bệnh cho đàn gia súc và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi - thú y, và như vậy người chăn nuôi có thể hạn chế tốt hơn các rủi ro từ dịch bệnh.

  • Tổ chức tốt các dịch vụ đầu vào và đầu ra mang tính tập thể. Năng suất và chất lượng sản phẩm tăng trong khi giá thành sản phẩm hạ, đầu ra ổn định nhờ hoạt động tập thể giúp người chăn nuôi nâng cao thu nhập. Ban quản lí và các kỹ thuật viên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động này, và vì vậy họ thường xuyên được dự án hỗ trợ nâng cao năng lực.

  • Định hướng trong tương lai là các nhóm nông dân năng động phát triển thành tổ chức có tính pháp lí cao (tổ hợp tác, HTX), có quan hệ tốt với các đối tác liên quan.

Tại Tam Dương, hoạt động được dự án chú trọng nhiều nhất đến công tác xây dựng hội thú y cấp huyện trên cơ sở 5 mạng lưới (chi hội) đã có - cầu nối giữa Hội thú y tỉnh và các chi hội cơ sở nhóm điều phối tốt hơn công tác phòng trị bệnh, góp phần giảm nhẹ sức ép công việc với mạng lưới của nhà nước. Đây sẽ là một mô hình điểm về tổ chức ngành nghề.


Duy trì các tổ nhóm đã có và tăng cường hoạt động theo chiều sâu, đẩy mạnh chăn nuôi lợn nái để sản xuất lợn con chất lượng cao, đồng thời thử nghiệm các hình thức bảo hiểm-tư vấn giữa nhóm và mạng lưới thú y cơ sở. Các nhóm chăn nuôi lợn nái đã có tiếp tục liên kết với nhau để cung cấp và hưởng các dịch vụ đầu vào - đầu ra mới.


Thuỷ sản
Hỗ trợ tổ chức người nuôi cá giống sản xuất cá giống chất lượng để cải thiện dịch vụ cung ứng sản phẩm này tại địa phương. Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin (giữa những người sản xuất cùng một loại sản phẩm và giữa các tác nhân khác nhau), hợp tác trong tổ chức sản xuất và kinh doanh.


Giúp các tác nhân liên quan trong lĩnh vực sản xuất cá giống, cá bột chất lượng cao tại địa phương tập hợp thành tổ chức có các phương tiện cần thiết để bảo đảm sản xuất. Các nhóm được cơ cấu lại, đào tạo bài bản hơn về mặt tổ chức và quản lý nhóm cũng như lập kế hoạch và tổ chức sản xuất, được theo dõi và hỗ trợ thường xuyên. Dự án đầu tư một số trang thiết bị dùng chung để hỗ trợ cải thiện sản xuất, đồng thời thúc đẩy liên kết nhóm nhờ các hoạt động tập thể.


Về mặt thể chế, vai trò của các tác nhân với các nhóm sản xuất cá giống sẽ được xác định rõ hơn, qua đó giúp nhóm xác định ai có thể hỗ trợ họ về mặt gì và cần thiết lập những mối quan hệ nào.


Phổ biến các mô hình tổ chức và dịch vụ thử nghiệm đã được cải thiện trong toàn huyện qua việc soạn tài liệu và tổng kết kinh nghiệm.


Đào tạo một lực lượng kỹ thuật viên thuỷ sản có khả năng đáp ứng nhu cầu về phòng và trị bệnh cá thường gặp tại địa phương. Các kỹ thuật viên được tổ chức và hỗ trợ các phương tiện cần thiết để tiến hành hoạt động và đảm bảo tính bền vững của các hoạt động đó. Dự án cùng chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn (trạm khuyến nông, trung tâm thuỷ sản tỉnh) phối hợp tổ chức đào tạo, trao đổi về cách thức sử dụng và quản lý lực lượng này để đảm bảo cho họ được hành nghề trong một môi trường thuận lợi.

Sản xuất giống

  • Cải thiện cơ cấu tổ chức nhóm giống (củng cố tổ chức và xây dựng hoạt động 13 nhóm) để nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng nhu cầu của gia đình và thu lợi từ việc bán giống.

  • Tạo quy mô sản xuất phù hợp (10-15 hộ tham gia/ 1 nhóm giống với diện tích khoảng 15 - 20 sào). Muốn vậy các nhóm giống phải được tổ chức tốt, thực hiện các thủ tục cần thiết để triển khai hoạt động và bảo vệ quyền lợi của mình. Trước mắt là xác định nhu cầu sử dụng giống trong xã, thống kê các nguồn cung cấp hạt giống trên địa bàn xã và tư vấn cho chính quyền địa phương trong việc ra quyết định quy hoạch vùng sản xuất hoặc quyết định thành lập tổ giống.


  • Cải thiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: (sản xuất được 20 tấn giống đạt cấp giống nguyên chủng và tiêu thụ được 80% sản phẩm). Người dân được hỗ trợ để tham gia ngành hàng giống lúa ở địa phương, cụ thể là dự án hỗ trợ tài chính để mua vật liệu và thiết bị cần cho sản xuất giống chất lượng cao (máy phun thuốc trừ sâu, máy khâu bao...), tư vấn về hình thức sản phẩm, liên hệ với các tác nhân đầu ra để ký hợp đồng tiêu thụ theo chuẩn chất lượng phù hợp với các bên.

Tạo môi trường thể chế thuận lợi: Thông tin thường xuyên tới các tác nhân, nhất là chính quyền địa phương để tranh thủ sự hỗ trợ của họ.

Sản xuất rau
(Sơn Lôi, Gia Khánh - Bình Xuyên, Duy Phiên, Hợp Hoà - Tam Dương)

  • Những người sản xuất giống rau cung ứng cho người sản xuất rau trong làng xã các sản phẩm có chất lượng cao hơn. Hiện đã định hướng được nhu cầu về rau giống trên địa bàn 4 xã, số hộ hiện đang sản xuất rau giống, từ đó xác định quy mô sản xuất giống: 8 - 12 hộ/xã với diện tích mỗi hộ từ 5 - 8 thước, mỗi xã làm 5 - 6 sào cây giống.

  • Người sản xuất cây giống có những kiến thức để họ sản xuất chuyên nghiệp. Dự án hỗ trợ bằng cách tập huấn kỹ thuật cho người làm giống, giúp họ lập kế hoạch sản xuất, hoạch toán kinh tế làm cây giống và tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm ở 1 số vùng làm giống chuyên nghiệp (Mê Linh, Đông Anh, Hà Đông, Vĩnh Tường, Minh Tân, Yên Lạc), đồng thời hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình thử nghiệm so sánh mô hình trình diễn tạo 4 xã/ 2 huyện.

  • Người làm giống được chuẩn bị tốt cơ sở vật chất để tiến hành gieo cây giống. Dự án hỗ trợ người làm giống một phần tài chính để họ xây dựng vườn ươm cây giống theo diện tích phù hợp điều kiện kinh tế gia đình, tổ chức sản xuất và phổ biến quy trình sản xuất, và nguồn cung cấp hạt giống để họ sản xuất cây giống.

  • Giúp người trồng rau giống tiêu thụ sản phẩm qua việc thiết lập quan hệ với người trồng rau và tranh thủ sự ủng hộ của địa phương.

  • Phổ biến mô hình các dịch vụ qua theo dõi tổng kết đánh giá. Muốn vậy cần tiến hành tốt công tác theo dõi, đánh giá, đồng thời tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về những kết quả thu được dưới nhiều hình thức (loa đài, hội nghị đầu bờ...) với sự hỗ trợ của các cơ quan, đoàn thể ở địa phương.

 

X Đầu trang

 › Tiếng Việt  › Français  › English

Sơ đồ Website |  Liên hệ  |  Liên kết

  Tổ chức Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ
Phòng 307+308 - Nhà A1 Khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc, 298 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội.

Tel: (84-4) 38 464 493/38 464 491. Fax: (84-4) 38 464 514. Email: gretvn@gret.org.vn