Ø HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN DIALOGS TẠI BẮC KẠN

Trong những năm đầu của thập kỷ năm 90, Chương trình Sông Hồng đã tiến hành điều tra, thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật và đưa vào sản xuất nhiều giống cây con mới, góp phần phát triển kinh tế hộ nông dân.

Tuy nhiên chuyển giao kỹ thuật đơn thuần mang lại hiệu quả thấp. Nông dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ và thị trường. Hộ nông dân cần chủ động tham gia vào việc tổ chức và củng cố các dịch vụ này cùng với các tác nhân khác để phục vụ tốt hơn cho sản xuất của hộ. Đây chính là các thể chế mới ở nông thôn cần được kiểm nghiệm và khẳng định mà DIALOGS đang mong muốn đạt được trong dự án này.

 

DIALOGS triển khai tại Bắc Kạn với hai hợp phần chính là Nông nghiệp và Y tế.
Hai hợp phần này hoạt động riêng biệt. Tuy nhiên một số bệnh về đường tiêu hoá, suy dinh dưỡng ở trẻ em đều ít nhiều liên quan đến nước sạch, vệ sinh và kinh tế nông hộ…mảng phát triển địa phương sẽ kết hợp các hoạt động đó lại nhằm giải quyết vấn đề tốt hơn.
 

 

Các hoạt động trong hợp phần nông nghiệp được triển khai chủ yếu tại huyện Chợ Đồn bao gồm :

  • Tổ chức nhóm hộ nông dân sản xuất lúa giống

  • Bảo tồn, phát triển và thương mại hoá sản phẩm đặc sản hồng không hạt

  • Tổ chức xây dựng Hội chăn nuôi thú y

Đối với hợp phần y tế, trong khuôn khổ dự án DIALOGS, giai đoạn đầu chủ yếu tập trung vào khâu khảo sát ban đầu và tiến hành tìm hiểu sâu về những chủ đề sau:

  • Tình trạng suy dinh dưỡng

  • Dịch vụ y tế và Năng lực cán bộ

  • Nước & Vệ sinh môi trường

  • Phát triển địa phương


Ngoài những biện pháp y tế ra, sự phối hợp với mảng Nông nghiệp của dự án DIALOGS sẽ giúp cộng đồng và gia đình huy động nguồn lực khác để nâng cao mức thu nhập kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề cốt lõi của suy dinh dưỡng thông qua hoạt động chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, trồng trọt nông nghiệp hay có những sản phẩm mới và thị trường tiêu thụ mới. Hiện nay mảng phát triển địa phương đang được tiến hành tại xã Nghĩa Tá và Tân Lập của huyện Chợ Đồn .


HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ
 

HỢP PHẦN NÔNG NGHIỆP
Chăn nuôi - thú y

Về thú y, ưu tiên cho việc xây dựng 1 hiệp hội thú y trên cơ sở các tủ thuốc thú y mà Chương trình sông Hồng đã trang bị cho các xã. Đã thực hiện được các công việc sau: soạn thảo quy chế hoạt động, các kế hoạch cung cấp dịch vụ phòng bệnh, nhóm nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, đồng thời phát triển hoạt động tiêm phòng bổ sung 1 cách liên tục. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ dựng các dịch vụ chung khác, như mua chung thuốc thú y hoặc đào tạo kỹ thuật cho thú y viên.

 

Về mặt thể chế
Tại Chợ Đồn nhóm dự án sẽ thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan quản lý của Nhà nước cũng như các cơ quan chuyên môn có liên quan để xây dựng Hiệp hội thú y thực sự có tính pháp lý. Việc này sẽ cho phép tiến hành các dịch vụ thú y một cách thường xuyên và có tính tổ chức hơn. Các tác nhân địa phương cũng có vai trò quan trọng bởi cho đến nay thú y là mảng chưa được địa phương tác động nhiều. Như vậy, hoạt động cần có sự tham gia và hỗ trợ của các đối tác, về mặt tổ chức, theo dõi và đánh giá. Nếu hiệp hội pháp huy được lợi thế của mình thì nớ sẽ là sự bổ sung rất tốt cho mạng lưới dịch vụ nông nghiệp vốn rất mỏng hiện nay.


Sản xuất lúa giống
Phát triển tổ chức nông dân sản xuất giống lúa. Những người sản xuất giống lúa được tổ chức theo nhóm, có kế hoạch hoạt động cụ thể xây dựng trên cơ sở tính toán nhu cầu của địa phương và khả năng sản xuất của nhóm.
Cung cấp các dịch vụ cho nhóm sản xuất để tạo ra mạng lưới sản xuất giống chuyên nghiệp. Các nhóm được hỗ trợ thiết lập quan hệ với các tác nhân tham gia hoạt động sản xuất giống (nhất là các tác nhân đầu vào) và quảng bá sản phẩm tại địa phương.
Tạo môi trường, thể chế cho chính sách giống ở địa phương. Sản xuất được thực hiện dưới hình thức nhóm nhằm giúp người dân nghèo có thể tiếp cận giống chất lượng với giá cả hợp lí, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Do vậy thảo luận với các đối tác địa phương (UBND xã, huyện, phòng Kinh tế hạ tầng nông thôn) là rất cần thiết để tạo ra môi trường thuận lợi cho nhóm. Ngoài ra hoạt động này có liên quan tới chính sách trợ giá giống của địa phương nên việc thảo luận với các cơ quan chức năng (phòng KTHTNT, Trung tâm giống của tỉnh...) để điều chỉnh chính sách cũng rất được chú trọng.


Hồng không hạt
Nâng cao năng lực cho các nhóm nông dân về sản xuất và tham gia thị trường nhằm tăng hiệu quả và kinh tế, tiết kiệm nguồn lực. Nông dân được hỗ trợ cải tiến thực hành canh tác hồng (ghép mắt, tạo vườn ươm, chăm sóc...) thông qua tập huấn và thực hành sản xuất. Tính đồng đều trong thực hành nhân giống và chăm sóc hồng ở các hộ nông dân đã tăng. Dự án cũng phối hợp với Hội nông dân huyện để xây dựng hệ thống đào tạo kỹ thuật địa phương.


Phát triển các dịch vụ cho người sản xuất hồng, đặc biệt là dịch vụ đầu vào bằng cách hỗ trợ đầu tư trang thiết bị giúp tổ chức nông dân phát triển mô hình một cách thuận lợi như cành ghép và gốc ghép, thiết bị vườn ươm (dây thép gai, máy bơm...), thiết bị phục vụ cho việc ghép cành, các loại thuốc kích thích và thuốc bảo vệ thực vật.


Giúp nông dân tham gia vào thị trường có hiệu quả, tăng tính ổn định sản xuất trong vùng. Bước đầu thiết lập quan hệ giữa nhóm hộ trồng hồng và các tác nhân đầu ra (chủ buôn và người thu gom ở địa phương, cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội, Thái Nguyên) để trao đổi về các chỉ tiêu chất lượng, nhãn mác bao bì sản phẩm và tìm kiếm khả năng tiêu thụ.


Tạo môi trường thể chế, pháp lý cho vùng sản xuất hồng đặc sản bắt đầu việc trao đổi với chính quyền xã và huyện về các điều kiện cần cho sự phát triển bền vững của các nhóm hộ trồng hồng cũng như bản thân hoạt động sản xuất hồng.


Song song với các hoạt động trên dự án cũng chú trọng phổ biến và nhân rộng các đổi mới kỹ thuật và giải pháp thương mại hoá hồng. Dự kiến sẽ mở thêm các nhóm nông dân sản xuất hồng và tăng cường trình diễn kỹ thuật tại các thôn và xã khác, đồng thời tổ chức một số hội nghị, hội thảo trao đổi và xây dựng kế hoạch phổ biến.


HỢP PHẦN Y TẾ
Qua kết quả điều tra ban đầu đã giúp các thành viên chính của cộng đồng thành lập các kế hoạch can thiệp địa phương dưới sự hướng dẫn của cán bộ dự án, hướng can thiệp chủ yếu được xác định quanh 6 điểm chính sau:
   -  Giáo dục truyền thông – Tư vấn
   -  Chế độ ăn uống
   -  Dịch vụ y tế
   -  Phát triển địa phương
   -  Nước sạch và vệ sinh môi trường
   -  Nâng cao năng lực


Giáo dục truyền thông - Tư vấn
Để nâng cao hiệu quả, chiến lược GDTT và tư vấn cần phải có nhiều hình thức đa dạng, có sự tham gia tích cực của cộng đồng, mở rộng nhóm đối tượng khác ngoài các bà mẹ, tiếp tục phát triển phương tiện truyền thông có tính chất sáng tạo và đặc biệt đào tạo thêm kỹ năng tư vấn.


Chế độ ăn uống
Dự án sẽ khuyến khích gia đình huy động những nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương để đảm bảo tính bền vững của sự tác động. Một phương án nữa là đưa bột dinh dưỡng của chương trình Fasevie vào để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng. Ngoài ra, việc tư vấn cho gia đình về chế độ ăn uống và nghỉ ngơi của trẻ và bà mẹ sẽ được quan tâm hơn.


Dịch vụ y tế
Các cán bộ y tế sẽ được tăng cường về kỹ năng quản lý lồng ghép bệnh tật trẻ em nhằm khắc phục một số nguyên nhân chính dẫn đến suy dinh dưỡng. Dự án cũng quan tâm đến việc hỗ trợ các cơ sở y tế đảm bảo cung cấp đầy đủ viên sắt, vitamin A và thuốc tẩy giun cũng như hỗ trợ phục hồi dinh dưỡng. Về khâu tổ chức, biện pháp can thiệp sẽ ưu tiên lồng ghép các chương trình y tế như chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, chương trình tiêm chủng mở rộng và chương trình chăm sóc bà mẹ và trẻ em trong ngày tiêm chủng hàng tháng tại các xã. Hệ thống giám sát y tế cũng sẽ được cải thiện song song với hoạt động lồng ghép này.


Nước sạch và vệ sinh môi trường (NS-VSMT).
Sau cuộc khảo sát ban đầu về tình hình nước thông qua các buổi họp dân, hoạt động này hiện đang trong giai đoạn thiết kế. Dự án sẽ hỗ trợ các hộ gia đình xây dựng những công trình NS -VSMT, tập huấn các đội làng bản về công tác giám sát, sử dụng và bảo dưỡng các công trình. Sự đóng góp từ phía hộ gia đình và cộng động sẽ được đặc biệt huy động tích cực. Ngoài việc truyền thông về nước sinh hoạt và xử lý chất thải, dự án cũng chú trọng đến việc tư vấn cách quy hoạch chuồng trại, công trình vệ sinh, vườn ao cho các hộ.


Nâng cao năng lực
Để có khả năng triển khai các hoạt động can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng nêu trên, một số kỹ năng cần phải được quan tâm và bồi dưỡng cho tất cả các đối tượng tham gia vào dự án là: GDTT-Tư vấn , Giám sát-Quản lý và Chuyên môn y tế. Nhiều khoá đào tạo và tập huấn sẽ do dự án tổ chức cho một số cán bộ của Trường Đại học Y Hà Nội (Khoa Y tế Công cộng) và những cộng tác viên hay đối tác chính ở cấp tỉnh, huyện, xã và thôn.


Nhóm Phát triển địa phương
 

- Phát hiện ra vấn đề mang tính liên ngành (những vấn đề khó khăn của người dân địa phương), phối hợp với các ngành liên quan để giải quyết những vấn đề đó.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng và quản lý nước ở cấp cộng đồng, giúp người dân có thể sử dụng nguồn nước tốt hơn với những mục đích khác nhau (cho sinh hoạt, tưới tiêu, chăn nuôi).
- Giúp cộng đồng có khả năng lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phát triển (dựa trên những ưu tiên của địa phương).
- Lập kế hoạch phát triển của địa phương (phương pháp tiếp cận và phương pháp thực hiện) được thể chế hoá ở cấp huyện và cấp xã.

 

 

X Đầu trang

› Tiếng Việt › Français › English

Sơ đồ Website |  Liên hệ  |  Liên kết

  Tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Phòng 307+308 - Nhà A1 Khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc, 298 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội.

Tel: (84-4) 38 464 493/38 464 491. Fax: (84-4) 38 464 514. Email: gretvn@gret.org.vn