|
ØHOẠT
ĐỘNG CỦA DỰ ÁN DIALOGS TẠI HẢI DƯƠNG
Từ những năm 90, chương trình
hợp tác giữa GRET và VASI tại tỉnh Hải Dương đã thu được những kết quả
trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Với một ví trí địa lý thuận lợi (nằm trên đường quốc lộ số 5, gần các
thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng), Hải Dương là một tỉnh nông nghiệp
khá phát triển, sản xuất hàng hoá hướng tới thị trường. Dựa trên những
lợi thế về cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ dân trí và sự năng động của
người dân, chúng tôi đã chọn phương pháp tiếp cận ngành hàng để nghiên
cứu và tác động. Nhiều mô hình về tổ chức nông dân đã được hình thành
giúp nông dân liên kết sản xuất và tham gia vào thị trường hiệu quả hơn.
Các mô hình hợp tác trong tổ chăn nuôi (tổ và hợp tác xã chăn nuôi) và
tổ sản xuất giống lúa tại Nam Sách là những ví dụ cụ thể:
Bắt đầu thực hiện tại Hải
Dương từ tháng 5 năm 2003, dự án DIALOGS hướng tới mục tiêu:
-
Tăng cường và cải thiện các dịch vụ nông nghiệp nhằm hỗ
trợ và củng cố các tổ chức nông dân
-
Tăng cường và phát triển các ngành hàng nông nghiệp
-
Hỗ trợ các nhóm nông dân tham gia vào việc đưa ra quyết định ở địa
phương
Nhóm công tác của dự án gồm 13 người làm việc tại các huyện Nam Sách,
Gia Lộc và Thanh Hà hỗ trợ 40 tổ chức nông dân với 500 thành viên. Các
tổ chức này có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với VASI- đối tác chính của
dự án và phối hợp trực tiếp với Phòng Nông nghiệp của 3 huyện và Hội Phụ
nữ Nam Sách. Bốn hoạt động chính của dự án ở Hải Dương:
-
Hoàn thiện và nhân rộng mô hình Hợp tác xã chăn nuôi ở Nam Sách
-
Hỗ trợ sản xuất giống chất lượng cao nhằm tăng khả năng cung ứng tại
Nam Sách và Gia Lộc Phát triển ngành hàng rau ở Gia Lộc
-
Tổ chức ngành hàng vải thiều tại Thanh Hà để được chứng nhận nguồn gốc
xuất xứ
Phát triển chăn nuôi - thú y
Phát triển hình thức dịch vụ phòng trừ dịch bệnh mới cho người chăn nuôi
ở địa phương: thiết lập quan hệ giữa các tổ chức nông dân (nhóm chăn
nuôi, HTX) và tổ chức tư nhân (Hiệp hội thú y tư nhân). Hiệp hội sẽ được
thành lập trong thời gian tới với sự hỗ trợ của dự án và Trạm Thú y.
Hiện nhóm công tác đã tiến hành đánh giá nhu cầu của người chăn nuôi và
khả năng hợp tác giữa tổ chức nông dân và Hiệp hội TYTN. Công tác tổ
chức, phân vùng hoạt động cho thú y viên cũng như xác định các yếu tố
liên kết giữa họ để tiến tới xây dựng phương án hoạt động đang được thực
hiện.
Củng cố thể chế thú y địa phương nhằm cải thiện dịch vụ thú y. Cán bộ dự
án sẽ giúp thú y tư nhân thành lập hiệp hộivà hỗ trợ hiệp hội này:
-
Hoàn thiện các cơ chế quản lí tài chính, quản lí thông tin, tổ chức
nhân sự…
-
Tổ chức các buổi gặp gỡ với các cấp chính quyền, các cơ
quan quản lí thú y để thảo luận về khả năng sự hợp tác giữa Hiệp hội với
các cơ quan trên
-
Tác động tới các cơ quan chuyên môn địa phương, chính
quyền địa phương để tạo ra hành lang pháp lí thuận lợi cho sự phát triển
của Hiệp hội
-
Giúp các cơ quan chuyên môn xây dựng liên kết thông tin,
phòng chống dịch bệnh với Hiệp hội
-
Tư vấn trong các hoạt động tiêm phòng và điều trị bệnh
Phát triển ngành hàng rau
-
Thông tin và cảnh báo rộng rãi những thuận lợi và thách thức của sự
phát triển ngành hàng rau ở Gia Lộc (môi trường, năng suất, khả năng
cạnh tranh…) đến tất cả các tác nhân trong vùng: Người sản xuất, người
buôn, chính quyền các cấp.
-
Hỗ trợ nhằm thúc đẩy các sáng kiến, đổi mới kỹ thuật và cải tiến thực
hành canh tác rau nhằm tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ các nguồn lực sản
xuất, nâng tính cạnh tranh sản phẩm và đáp ứng các nhu cầu của thị
trường. Sự hỗ trợ này được thực hiện thông qua việc xây dựng các nhóm
nông dân, thử nghiệm và trình diễn tiến bộ kỹ thuật như xử lí đất trước
trồng, phương pháp bón phân, sử dụng phân vi sinh cho cây trồng… Dự kiến
sẽ tiếp tục nhân rộng các nhóm, mở rộng diện tích trình diễn, ngoài ra
hỗ trợ các trình diễn kỹ thuật khác như xây dựng vườn ươm và kỹ thuật
làm bầu cây giống, chuyển đổi một số công thức luân canh giảm áp lực cho
đất, sản xuất rau trái vụ, rau sớm để tăng hiệu quả sản xuất, áp dụng
canh tác IPM và thử nghiệm các giống cây trồng mới. Hoạt động được thực
hiện với sự phối hợp của phòng Nông nghiệp và trạm Bảo vệ thực vật
huyện.
-
Hỗ trợ các tác nhân tăng cường mối quan hệ sản xuất và thị trường. Cụ
thể là hỗ trợ các tác nhân trong ngành hàng và thúc đẩy sự trao đổi
thông tin và sự hợp tác giữa các tác nhân này.
-
Góp phần xây dựng các chính sách và kế hoạch phát triển ở địa phương.
Phát triển các tổ chức nông dân sản xuất lúa giống
-
Chú trọng công tác đào tạo, tập huấn những người tham gia sản xuất hạt
giống để họ trở thành những người chuyên sâu ở thôn, làng về công tác
làm giống. Vì thế trong đào tạo nông dân có cả nội dung kỹ thuật (đặc
biệt là kỹ thuật trên đồng) lẫn kiến thức kinh tế áp dụng cho làm giống
(làm thế nào để thu được hiệu quả kinh tế cho mình thông qua sản xuất và
trao đổi giống ở địa phương).
-
Nâng cao tính chuyên môn hoá trong sản xuất và kinh doanh hạt giống ở
nông hộ và trong nhóm. Để làm được điều này, cán bộ dự án giúp các nhóm
nông dân tự xây dựng nội quy và các quy định trong hoạt động, xây dựng
quy trình chung về sản xuất hạt giống mà tất cả các thành viên nhóm phải
tuân thủ, thiết lập quy định chỉ tiêu chất lượng hạt giống và hệ thống
giám sát chất lượng hạt giống kể từ hạt giống đầu vào đến khi trao đổi
trên thị trường.
-
Nâng cao tính tự chủ của nhóm trong các quyết định sản xuất (quy mô
nhóm, tổ chức quản lí và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng
năm), đồng thời đảm bảo quan hệ với các tác nhân trong ngành hàng giống
tại địa phương như Hội Phụ nữ, công ty giống, chính quyền cơ sở cấp xã,
thôn.
-
Phát huy kinh tế quy mô để tăng hiệu quả sản xuất giống ở các nhóm nông
dân thông qua củng cố hiệu quả hoạt động ở cấp độ nhóm và xây dựng mạng
lưới liên nhóm. Mạng liên nhóm sẽ đảm nhận
việc bàn bạc kế hoạch giống đầu vào, giá cả thống nhất trong các nhóm và
tăng khả năng đàm phán với chính quyền cấp huyện, tỉnh về chính sách
giống và tham gia vào các chương trình của địa phương.
Ngành hàng vải
-
Cải thiện thực hành chăm sóc, bảo quản, chế biến để sản xuất vải có
chất lượng cao và đồng đều, tăng hiệu quả và kinh tế, tiết kiệm nguồn
lực. Một số thử nghiệm về kỹ thuật và cải tiến công nghệ sau thu hoạch
nhằm nâng cao chất lượng vải đã được thực hiện với một số khoá tập huấn
đi kèm đã mang lại những kết quả cần thiết để xây dựng quy trình kỹ
thuật chung cho vải thiều. Quy trình này sẽ được các nhóm nông dân áp
dụng. Dự án đang giúp các nhóm củng cố, phát triển và liên kết với nhau
trong tổ chức và kỹ thuật.
-
Phát triển các dịch vụ cho người sản xuất cây ăn quả, đặc biệt là dịch
vụ đầu vào: tư vấn cho các nhóm tiếp cận được các nguồn vật tư quý hiếm
cung ứng cho các thành viên trong nhóm (hoá chất xử lý lộc đông, chế
phẩm làm chậm chín, các loại phân vi lượng phun trên lá để tăng chất
lượng quả...).
-
Giúp nông dân tham gia vào thị trường có hiệu quả, tăng tính ổn định
sản xuất trong vùng. Các nhóm xây dựng được mối liên kết với tác nhân
đầu ra (chủ buôn và người thu gom ở địa phương, cửa hàng bán lẻ ở Hà
Nội) trên cơ sở lợi ích chung. Cùng với người kinh doanh và người tiêu
dùng, các nhóm đã xây dựng được tiêu chí nhận biết tính đặc thù của sản
phẩm vải thiều Thanh Hà. Dự án cũng đã hỗ trợ nhóm xây dựng nhãn mác,
bao bì phù hợp cho vải tươi và thử nghiệm tiêu thụ sản phẩm tại Hà Nội.
-
Xây dựng thể chế quản lý sản phẩm đặc sản tại địa phương. Hiệp hội sản
xuất và kinh doanh vải thiều Thanh Hà (bao gồm người sản xuất và buôn
bán) mới ra đời không chỉ giải quyết vấn đề phổ biến và nhân rộng đổi
mới kỹ thuật và các giải pháp thương mại hoá vải thiều, nó còn đóng vai
trò đại diện cho những người sản xuất để trao đổi với địa phương hợp tác
nhằm tìm ra hướng hỗ trợ phát triển sản xuất vải thành sản phẩm có nguồn
gốc xuất xứ.
|